ĐỀ SỐ 5 - ĐỀ LUYỆN THI TỐT NGHIỆP NĂM 2026 MÔN HÓA HỌC
Vui lòng cài đặt đề thi trước khi làm bài
PHẦN I. Câu trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn. Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 18. Mỗi câu hỏi thí sinh chỉ chọn một phương án.
Isoamyl acetate là một ester có mùi chuối chín, thường được dùng làm hương liệu thực phẩm. Công thức cấu tạo của isoamyl axetate là CH3COOCH3CH3CH(CH3)3. Phát biểu nào sau đây đúng về isoamyl acetate?
Cho disaccharide X có cấu trúc như sau:
Phát biểu nào sau đây là đúng?
Cho các dạng tồn của alanine ở các điều kiện pH khác nhau như sau:
Phát biểu nào sau đây đúng?
Tơ nylon-6,6 dùng để dệt vải may mặc, vải lót săm lốp xe, dệt bít tất, bện làm dây cáp, dây dù, đan lưới,… Công thức cấu tạo của tơ nylon-6,6 được biểu diễn ở hình dưới đây:
Phát biểu nào sau đây là không đúng khi nói về tơ nylon-6,6?
Cho bảng số liệu sau:
Xét các cặp oxi hóa khử trong bảng, ở điều kiện chuẩn. Phát biểu nào sau đây không đúng.
Trong thực tế, người ta thường dùng phản ứng nhiệt nhôm để hàn các đoạn đường ray xe lửa ngay tại hiện trường. Phản ứng xảy ra trong quá trình này là:
Fe2O3 + 2Al (t)->
Nguyên nhân chính khiến phản ứng trên được sử dụng để hàn đường ray là vì
Khi sử dụng sodium hydrogencarbonate (NaHCO3) làm bột nở trong chế biến thực phẩm, bột bánh trở nên xốp sau khi nướng là do quá trình nào sau đây xảy ra?
Cho phản ứng sau: NiCl2(s) + A ⟶ [Ni(OH2)6]2+(aq) + B
A và B lần lượt là
Phương trình hóa học của phản ứng hydrate hóa ethylene để điều chế ethanol là:
Cơ chế của phản ứng xảy ra như sau:
Trước hết, acid sulfuric phân li: $\text{H}_2\text{SO}_4 \rightarrow \text{H}^+ + \text{HSO}_4^-$
Nhận định nào sau đây không đúng?
Màu hoa cẩm tú cầu phụ thuộc vào độ pH của đất trồng: đất có mối trường acid cho hoa màu lam, đất có mối trường trung tính cho hoa màu trắng sữa, còn đất có mối trường base cho hoa màu tím hoặc hồng. Khi trồng hoa cẩm tú cầu, nếu người trồng bón thêm một ít vôi CaO và chỉ tưới nước, thì khi thu hoạch hoa có màu gì?
Nguyên tố X có số hiệu nguyên tử Z = 17. Phát biểu đúng về nguyên tử X là
Trong y tế, dung dịch iodine thường được dùng để sát trùng vết thương ngoài da. Tác dụng sát trùng của iodine chủ yếu là do iodine
Trong thực tế, khi xử lý nước sinh hoạt bị đục ở nông thôn, người ta thường hòa tan phèn chua KAl(SO4)2.12H2O vào nước, khuấy đều rồi để yên một thời gian thì thấy các chất bẩn lắng xuống đáy, nước phía trên trở nên trong hơn. Hiện tượng này chủ yếu xảy ra do
Trong công nghiệp, sulfuric acid (H2SO4) được sản xuất chủ yếu theo phương pháp tiếp xúc. Trong quy trình này, vai trò của vanadium(V) oxide (V2O₅) là
Sau một thời gian sử dụng, ở miệng chai nước mắm thường xuất hiện các tinh thể rắn nhỏ màu trắng bám xung quanh. Hiện tượng này chủ yếu là do
Geraniol có mùi thơm của hoa hồng và thường được sử dụng trong sản xuất nước hoa. Công thức của geraniol như sau:
Phát biểu nào sau đây đúng?
Sử dụng thông tin cho dưới đây để trả lời các câu 17 – 18:
Trong sinh hoạt hằng ngày, chất giặt rửa được sử dụng cùng với nước để loại bỏ các vết bẩn như dầu mỡ bám trên bề mặt rắn. Dựa vào nguồn gốc và thành phần, chất giặt rửa được chia thành xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp. Xà phòng là muối sodium hoặc potassium của các acid béo, còn chất giặt rửa tổng hợp thường là muối sodium của alkyl sulfate hoặc alkylbenzenesulfonate. Cả hai loại đều có tính hoạt động bề mặt do phân tử gồm một phần kị nước dễ tương tác với dầu mỡ và một phần ưa nước có khả năng tan trong nước. Khi giặt rửa, các phân tử này giúp phân tán vết bẩn thành những hạt nhỏ và cuốn trôi theo nước.
Cho các phát biểu sau:
(a) Dùng xà phòng khi giặt rửa với nước cứng sẽ tạo ra kết tủa CaCO3, MgCO3 làm giảm tác dụng giặt rửa.
(b) Xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch, từ đó giúp loại bỏ các vết bẩn dầu mỡ dễ dàng hơn.
(c) Xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp đều được sản xuất bằng cách đun nóng chất béo với dung dịch kiềm.
(d) Trong quá trình giặt rửa, đầu ưa nước trong xà phòng và chất giặt rửa thâm nhập vào vết bẩn.
Số phát biểu không đúng là
Trong một số loại chất giặt rửa tổng hợp, sodium peroxide (Na₂O₂) được bổ sung để tăng khả năng tẩy trắng. Khi hòa tan vào nước, Na₂O₂ phản ứng với nước tạo hydrogen peroxide (H2O2) – một chất oxi hóa mạnh, giúp nâng cao hiệu quả làm sạch vết bẩn trên quần áo.
Na2O2 + 2H2O → 2NaOH + H2O2
2H2O2 → 2H2O + O2 ↑
Phát biểu nào sau đây đúng?
PHẦN II. Câu trắc nghiệm đúng sai.
Ethylhexyl palmitate (EHP) là một ester được tổng hợp từ palmitic acid và 2-ethylhexanol. Đây là một chất làm mềm phổ biến trong mỹ phẩm, có vai trò giúp sản phẩm dễ tán, thẩm thấu nhanh và giảm cảm giác nhờn dính trên da. Công thức khung phân tử của EHP như sau:
Cho các phát biểu sau:
Để sản xuất 1000 lọ kem dưỡng da (50 mL/lọ), biết khối lượng riêng của kem là 0,90 g/mL và hàm lượng EHP chiếm 4% về khối lượng, nhà sản xuất cần chuẩn bị ít nhất 1,80 kg ethylhexyl palmitate.
Công thức phân tử của EHP là C24H48O2.
Chỉ số xà phòng hóa của ethylhexyl palmitate nguyên chất (tính bằng số mg KOH cần để xà phòng hóa hoàn toàn 1 g chất) có giá trị là 152,4 mg (làm tròn kết quả đến phần mười).
Khi đun nóng EHP với dung dịch NaOH dư, sản phẩm cuối cùng thu được là một dung dịch đồng nhất, trong suốt, do các chất tạo thành đều tan tốt trong nước.
Trong phân tích hàm lượng protein của mẫu ngũ cốc bằng phương pháp Kjeldahl, tiến hành các bước sau:
- Phân hủy mẫu:
Cân 1,3725 g bột ngũ cốc, cho vào bình cầu chứa 18 mL
- Giải phóng và thu
Sau khi làm nguội, thêm 250 mL nước, 30,0 g NaOH, chưng cất và dẫn khí
- Chuẩn độ:
Chuẩn độ lượng acid dư bằng NaOH 0,0610 M, dùng chỉ thị methyl red; thể tích NaOH tiêu tốn là 41,20 mL.
Biết hàm lượng nitrogen trong protein của ngũ cốc là 16,80%, xác định phần trăm khối lượng protein trong mẫu là h%.
Protein là hợp chất cao phân tử gồm các đơn vị amino acid liên kết với nhau bằng liên kết amide.
H₂SO₄ đặc có vai trò phân hủy các hợp chất hữu cơ, chuyển nitrogen trong protein về dạng $\text{NH}_4^+$.
Dung dịch HCl được sử dụng vừa đủ để phản ứng hoàn toàn với khí NH₃ sinh ra sẽ hạn chế được sai số ở bước chuẩn độ.
Giá trị của h bằng 14,8%. (Không làm tròn kết quả trung gian; làm tròn kết quả cuối đến hàng phần mười).
Nhằm đánh giá khả năng ứng dụng phế thải nông nghiệp trong pin sinh học, một nhóm nghiên cứu sử dụng vỏ cam Kintamani để điều chế dung dịch điện li. Giả thuyết nghiên cứu cho rằng: “dung dịch điện li từ vỏ cam có thể tạo ra điện áp đủ lớn và ổn định theo thời gian”. Dung dịch điện li được điều chế bằng cách nghiền 10–15 g vỏ cam với 100 mL nước cất, sau đó lọc lấy dung dịch. Một phần dung dịch được bổ sung gel điện li giữ cho dung dịch không bị chảy loãng hay xáo trộn, từ đó giúp các ion di chuyển ổn định hơn đến bề mặt điện cực và làm cho pin hoạt động đều hơn. Pin sinh học được lắp ráp với 15 mL dung dịch điện li, sử dụng các cặp điện cực kim loại khác nhau. Điện áp hở mạch của pin được đo tại các thời điểm 0 giờ, 4 giờ, 8 giờ và 12 giờ. Kết quả thu được thể hiện trong bảng sau:
Sự khác biệt điện áp giữa các cặp điện cực chủ yếu phụ thuộc vào bản chất kim loại điện cực.
Để kiểm chứng vai trò của gel, cần mắc thêm một đèn LED vào mạch pin rồi đo điện áp theo thời gian.
Dữ liệu thực nghiệm cho thấy giả thuyết nghiên cứu ban đầu là phù hợp.
Dung dịch điện li từ vỏ cam chủ yếu đóng vai trò môi trường dẫn ion, không trực tiếp tham gia phản ứng oxi hóa – khử tại điện cực.
Theo các tài liệu hướng dẫn vận hành của Hiệp hội Kỹ sư Nhiệt lạnh và Điều hòa không khí Hoa Kỳ, cặn bám trong hệ thống trao đổi nhiệt làm suy giảm hiệu suất và gây lãng phí năng lượng. Tại một nhà máy thực phẩm, hệ thống nồi hơi hoạt động với lưu lượng 5,0 m³/h. Nước cấp có tổng nồng độ ion $Ca^{2+}$ và $Mg^{2+}$ là 4,5 mmol/L (tương đương 450 mg/L tính theo $CaCO_3$), chứa các anion $Cl^-$, $SO_4^{2-}$ và $HCO_3^-$. Sau 6 tháng vận hành, trên bề mặt ống dẫn hình thành lớp cặn carbonate dày 2,0 mm, gây tổn thất khoảng 7% hiệu suất nhiệt. Chi phí nhiên liệu trung bình của hệ thống là 1,2 tỷ VNĐ/tháng. Nhà máy dự kiến sử dụng Soda ash thương phẩm (98% $Na_2CO_3$) để xử lý nước cấp. Giả sử các phản ứng kết tủa xảy ra hoàn toàn. Để loại bỏ hoàn toàn các ion gây cứng trong 100 m³ nước cấp, cần sử dụng x kg Soda ash.
Nước cấp trên là nước cứng toàn phần.
Thành phần chính của lớp cặn hình thành là $CaCO_3$ và $MgCO_3$; các chất này làm tăng khả năng truyền nhiệt, dẫn đến tăng tiêu hao nhiên liệu.
Giá trị của x là 48,67 kg (làm tròn đến hàng phần trăm).
Nếu không xử lý nước, tổng chi phí nhiên liệu bị lãng phí do suy giảm hiệu suất sau 6 tháng vận hành là 84 triệu VNĐ.
PHẦN III: Câu trắc nghiệm yêu cầu trả lời ngắn.
Trong công nghiệp, thạch cao nung ($\text{CaSO}_4\cdot\text{H}_2\text{O}$) được sản xuất bằng cách loại nước một phần thạch cao sống ($\text{CaSO}_4\cdot2\text{H}_2\text{O}$) trong lò nung ở 400 K, theo phản ứng sau:
Trong đó 60% lượng nhiệt đốt cháy từ methane dùng để cung cấp cho phản ứng nung thạch cao sống. Hỏi khi đốt cháy 1 tấn khí methane thì lượng nhiệt tạo ra đủ sản xuất được bao nhiêu tấn thạch cao nung? (Làm tròn kết quả đến hàng phần mười).
Cho công thức cấu tạo của santonin như sau:
Đầu tiên, santonin được đun nóng với H2SO4 loãng. Sản phẩm của phản ứng tiếp tục cho phản ứng với dung dịch KMnO4 loãng, lạnh. Biết rằng chỉ có C=C bị oxi hóa, thu được sản phẩm cuối cùng là Q. Có bao nhiêu nguyên tử hydrogen trong mỗi phân tử sản phẩm Q phản ứng được với Na?
Cho các chất sau: saccharose, Gly-Ala, tinh bột, glucose, , maltose, fructose, , methyl-a-glucoside, benzyl formate, cellulose. Có bao nhiêu chất trong cấu tạo có chứa liên kết glycoside?
Nhựa số 6 (polystyrene hay PS) được sử dụng phổ biến trong sản xuất hộp xốp đựng thực phẩm dùng một lần. Ở nhiệt độ cao, nhựa PS bị phân hủy sinh ra các chất có hại cho sức khỏe. Trong công nghiệp, có thể sản xuất polystyrene từ benzene theo sơ đồ sau:
(1) Polystyrene có cấu trúc mạch phân nhánh.
(2) Chất Y có tên gọi là ethylbenzene.
(3) Nhựa PS dùng để sản xuất hộp đựng thực phẩm sử dụng trong lò nướng.
(4) Polystyrene có khả năng làm mất màu dung dịch bromine.
(5) Phản ứng điều chế polystyrene thuộc loại phản ứng trùng ngưng.
(6) Tên thay thế của X là ethyne.
Trong các phát biểu trên, số phát biểu đúng là bao nhiêu?
Một công ty khai thác vàng xử lý 100 tấn quặng chứa 0,01% vàng về khối lượng. Nghiền mịn quặng rồi hòa tan bằng lượng dư dung dịch NaCN có sục khí Oxygen. Vàng sẽ tan ra dưới dạng phức chất [Au(CN)2]-
4Au + 8NaCN + O2 + 2H2O -> 4Na[Au(CN)2] + 4NaOH (1)
Giả sử toàn bộ vàng trong quặng đã bị hòa tan hết theo phản ứng (1)
Sau đó, người ta dùng bột Kẽm (Zn) để đẩy vàng ra khỏi dung dịch phức:
Zn + 2Na[Au(CN)2] -> Na2[Zn(CN)4] + 2Au (2)
Tính khối lượng bột Zn (theo kg) cần dùng, biết rằng trong thực tế phải dùng dư 10% khối lượng kẽm do một phần kẽm bị oxy hóa bởi không khí (Kết quả làm tròn đến hàng phần mười).
Cân 5,00 gam mẫu quặng Manhetite, hòa tan hoàn toàn bằng dung dịch HCl đặc, nóng trong điều kiện không có oxygen (sục khí N2 liên tục) thu được dung dịch X. Để nguội, thêm nước cất đến vạch định mức để thu được 250 mL dung dịch X.
Lấy 25,0 mL dung dịch X, thêm hỗn hợp H2SO4/H3PO4 và chỉ thị diphenylamine sulfonate. Tiến hành chuẩn độ Fe2+ bằng dung dịch chuẩn K2Cr2O7 0,02 M, thể tích tiêu tốn là 8,0 mL.
Lấy 25,0 mL dung dịch X, thêm dung dịch SnCl2 dư để khử toàn bộ Fe3+ thành Fe2+. Loại bỏ SnCl2 dư bằng HgCl2, sau đó chuẩn độ bằng dung dịch chuẩn K2Cr2O7 0,02 M thì thấy hết 30,0 mL.
Phản ứng chuẩn độ được cho như sau: 6Fe2+ +
Giả sử mẫu quặng ban đầu chỉ gồm Fe3O4 và tạp chất trơ, hãy tính phần trăm Fe3O4 đã bị chuyển hóa thành Fe2O3 do quá trình phong hóa (Kết quả làm tròn đến hàng đơn vị).